Trần Mạnh Đàn – vị quan thanh liêm

Năm 1882 cậu bé Trần Mạnh Đàn đã cất tiếng khóc chào đời tại làng Thuận Bài, phủ Quảng Trạch. Quê ông là một làng trù phú ven sông Gianh, nơi có dòng tộc Trần sau cuộc đảo chính của Hồ Quý Ly đã chạy vào lánh nạn và sinh cơ lập nghiệp.

Gia đình Trần Mạnh Đàn thuộc vào dòng tộc nhà Trần chạy loạn ấy. Cha ông là một vị túc nho; mẹ là con nhà thế phiệt, bà rất chăm chỉ đọc sách, ham hiểu biết. Ông ngoại ông là một cử nhân thông thái đã làm đến chức quan Án Sát. Thời ấy, dòng tộc nội ngoại của Trần Mạnh Đàn đều biết đạo nho đã bị suy tàn theo thời “Mạt Nguyễn”, nhưng họ không muốn con mình ” Cổ cày tay trâu” nơi đồng chua nước mặn và càng không muốn con cháu mình bỏ truyền thống hiếu học của ông cha. Họ chỉ muốn con cháu họ có văn hay chữ tốt, học hành thành tài để làm phương tiện tiến thân lập nghiệp.  Được sự dạy dỗ đến nơi đến chốn, Trần Mạnh Đàn đã sớm phát huy tư chất của một vị thần đồng. 10 tuổi, ông đã biết làm thơ phú; 13 tuổi, đã thông thạo kinh thư, truyện ký; 21 tuổi ông đỗ tú tài; ba mươi tuổi đỗ Cử nhân.

Năm 31 tuổi, Trần Mạnh Đàn thi hội nhưng không đạt. Cùng lúc ấy nhà Nguyễn có lệnh bãi bỏ chữ Hán và chuyển toàn bộ nền văn hoá nước nhà sang Tây Học. Trong thời gian này, phong trào Duy Tân như một luồng gió mới đã tác động lớn đến các sĩ phu yêu nước ở nước đương thời. Sách báo phương Tây cũng dội vào nước ta như một cơn lốc làm lay động các bậc văn nho. Trần Mạnh Đàn tìm đọc những sách báo tiến bộ, tự học Quốc Ngữ, tiếng Pháp. Cộng với sự giao thiệp rộng, từng tiếp xúc với nhiều nhân sĩ ở đất Kinh Kỳ, tất cả đã có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng, thái độ và quan điểm của ông về sau khi ra làm quan. Ông muốn làm một việc gì mới, muốn chạy cho kịp trào lưu mới của phong trào Duy Tân và những ảnh hưởng tiến bộ của Phương Tây đã hằn sâu vào con người nhạy cảm như ông.

Năm 1918, khi đã 36 tuổi ông ra làm quan ở huyện Tuyên Hoá. Mới về nhận chức, theo lời kể của một số cụ già thì Trần Mạnh Đàn đã về tại làng Lệ Sơn ( xã Văn Hoá) tiếp kiến vị tri phủ Hải Hưng về hưu là Lương Duy Chí và cũng để lại cho làng một bài thơ Đường luật: ” Vịnh núi Lệ Sơn” trong đó có câu kết rằng: ” Du nhân nhìn thấy phải ngầm khen”.

Trong 9 năm làm quan ở huyện Tuyên Hóa, nhận thấy hai tổng Kim Linh và Cơ Sa rất lạc hậu. Trần Mạnh Đàn đã mô tả: ” Hai tổng Kim – Cơ ở ngoại vùng /Dân phong khác hẳn với miền Trung / Cô bà mấy tộc không mang áo / Nhà cửa ba bề ở bịt bùng …”. Địa thế rất hiểm trở, rừng núi thì ngút ngàn. Đi lại thật khó khăn gian khổ. Ông miêu tả: ” Bước tới Tuyên Châu phải sợ ngầm / Đi bộ thất kinh rừng mấy lớp / Đi thuyền mất vía thác hai trăm”. Ông đã đến cả những nơi xa xôi hẻo lánh và nguy hiểm nhất như Thác Đĩ: ” Đã có bao nhiêu người bỏ mạng / Du nhân đến đó phải rùng mình”.

Trước tình hình của các tổng, trấn quá lạc hậu và hết sức khó khăn gian khổ ấy. Ông đã hạ quyết tâm: ” Tấm lòng cải cách ta ôm sẵn / Khai hoá dân lành phải gắng công”. Trần Mạnh Đàn là vị quan thanh liêm, có một quan điểm sống thanh bạch. Ông luôn vì dân, đau với nỗi đau của dân, nhục với cái nhục của dân, sống cùng với cái khó của dân. Ông nguyện không sang hơn dân, không giàu hơn dân. Trong bài thơ: ” Không tồi thua bạn, đừng sang hơn đời” ông đã thể hiện quan điểm và lấy quan điểm này để giáo dục cho dân: ” Chớ biển lận chớ hoang đường / Chớ tồi thua bạn chớ sang hơn đời / Học hành cốt phải thành tài /  Thành tài nhưng phải kính người mới nên”.

9 năm làm quan ở huyện Tuyên Hoá, ông không lấy việc ngồi ở công đường để xử kiện làm mục đích chính, không ngồi đọc sách ở thư phòng, không ưa làm sang làm giàu, không tự kiêu tự mãn, ông luôn ” vi hành” đi vào dân, đi vào cuộc sống cực khổ của dân, của các vùng hẻo lánh khó khăn để mở mang dân trí, khai hoá văn minh. Đi đến đâu ông cũng chăm lo mở mang đường sá, xây dựng trường học, lập chợ búa, phát triển công thương. Ông tự nghiên cứu, chế ra các máy móc để phục vụ dân. Các cụ già kể lại rằng: máy móc của ông làm bằng tre, bằng gỗ. Các thợ mộc dưới sự hướng dẫn của ông đã chế ra máy bơm nước nhờ sức gió, chế ra máy quay tơ, bông, khuyến khích làm nghề dệt tơ dệt vải, ông cặm cụi chế ra máy chân vịt quay tay để làm cho thuyền chạy …vv…

Đi đến đâu ông cũng mong cũng thích khuyến khích người dân chăm lo mở mang đường sá. Làng làng có đường ngang lối dọc, rộng rãi, sạch sẽ, thẳng tắp với hai hàng cây xanh ven đường. Bởi ông cho rằng: muốn khai phá văn minh, muốn mở mang kinh tế thì trước hết phải mở mang đường sá, trường học, chợ búa.

Về với xứ Kinh Châu nay là xã Châu Hoá, xứ Ôống nay là làng Thiết Sơn, xứ Thanh Thuỷ, xứ Còi nay là xã Đồng Hoá, xứ Minh Cầm, xứ Thanh Lạng … là nơi có đất phù sa, có thể phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm, có nhiều làng có thể trồng bông để kéo sợi, ông đã động viên nhân dân: ” Việc dệt hàng bông xảo vạn toàn / Sô nhiễu mỗi hàng riêng một kiểu / Bông hoa trăm thức khó muôn vàn”. Hay ” Mỹ nghệ nghề này nên học lấy / Chớ nên thấy khó vội từ nan”. Huyện Tuyên Hoá lúc bấy giờ có ai để ý đến việc buôn bán, người dân sống trong nền kinh tế tự cung tự cấp. Ông khuyên người dân: “Tứ dân một hạt thiếu nghề thương / Quyền lợi bao giờ đặng khuếch trương”. Cha ông ta thường dạy: “ vô thương bất phú” nên ông đã khuyên: “Phải xuất tiền ra lập phố phường” .

Trong thư chúc tết người dân huyện Tuyên Hoá năm đầu tiên về nhận chức (năm 1919), ông đã có thư nhằm khuyên người dân và các tầng lớp tổng, lý … chấm dứt tệ nạn xã hội: ” Rượu trà cờ bạc nên chừa bớt / Trộm cắp gian tham phải bỏ dần / Tổng lý chăm làm toan lợi nước / Trẻ con gắng học để thành tài”. Có như thế thì: ” Ngọn đuốc văn minh sẽ đỏ dần”. Ông đã khuyên tầng lớp quan lại dưới quyền rằng: ” Đã không sâu mọt chòi thư lại / Cũng chẳng đơn từ kiện Phủ nha”.

Trong những chuyến “vi hành” ấy ông đều ra mắt ở mỗi vùng một bài thơ, bài phú hoặc là một bài ký sự để bày tỏ quan điểm, giáo dục người dân và quan lại dưới quyền nhằm khai hoá văn minh cho làng ấp tổng trấn. Tuy nhiên những công việc nhỏ nhoi ấy đối với ngày nay thì chẳng có gì đáng nói, nhưng trong những năm đen tối của chế độ cũ chưa có Đảng lãnh đạo, có được một ông quan như Trần Mạnh Đàn biết lo cho dân, có một quan điểm cách tân nhằm khai hoá văn minh cho đời, cho người, cho làng ấp tổng trấn như thế quả là điều đáng quý.

Sau 9 năm ông làm tri huyện Tuyên Hoá, Trần Mạnh Đàn còn làm tri huyện Can Lộc, Mộ Đức, Cam Lộ, Hưng Thuỷ. Cuối cùng là ông làm tri phủ Hoằng Hoá. Vì sống thanh liêm, trung thực và thẳng thắn nên ông đã chống lại Viên Công Sứ tỉnh Thanh Hoá và ông đã bị loại khỏi ngạch công chức hành chính…Năm 1944, ông đi theo cách mạng, lên chiến khu huyện Tuyên Hóa, trở về xứ sở huyện Tuyên nơi ông đã có bao nhiêu kỉ niệm. Đến năm 1949,  ông qua đời tại miền quê suốt đời ông gắn bó này.

Với ông, đã từng lăn lộn với dân, với các làng xã hẻo lánh của huyện Tuyên, sống với con người, sống với xã hội của huyện Tuyên suốt 9 năm; ông dễ dàng so sánh huyện Tuyên 22 năm về trước với 4 năm dưới chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà mới được phôi thai với bài thơ: ” Trở về Tuyên Hoá”. Trong đó có hai câu đề: ” Khách đến đều nghe khen huyện Tuyên / Người đông cảnh đẹp tiếng vang truyền” và với hai câu kết rằng: ” Huống nay cách mạng nhiều thay đổi / Văn hoá ngày càng mạnh tiến lên”.

Một vị quan huyện của thời đại phong kiến, một nho sỹ đã lăn lộn chốn quan trường, vào những ngày cuối đời vẫn so sánh được cái khó khăn lạc hậu của một xứ sở hiểm trở, trước kia với tiền đồ tươi sáng của một huyện miền núi khi cách mạng thành công dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, đó không phải là một sự “lột xác” về quan điểm nhìn nhận hay sao? Nhân dân huyện Tuyên đang mãi mãi nhắc đến tên ông. Một vị quan thanh liêm, thương dân và có nhiều quan điểm cách tân tiến bộ để xoá dần đi những lạc hậu, cổ hủ.

 

                                                                                           Lương Duy Niệm

 

 

 

Leave a Reply

Your email address will not be published.

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.