Tuyên Hóa, quê hương, con người! Số 01: Một ông quan thanh liêm và khảng khái

Nói đến quan huyện Trần Mạnh Đàn, một ông quan tri huyện có tư tưởng canh tân và thân dân thì người dân Tuyên Hóa ít nhiều đều biết đến ông. Nhưng có một ông quan, lại là gốc Tuyên Hóa, có tầm tư tưởng và nhân cách tầm cỡ như vậy, thuộc lớp trước Trần Mạnh Đàn, chưa hẳn mấy người biết về ông. Đó chính là ông Nguyễn Tri Hoán, dân gian vẫn quen gọi một cách thân mật là ” ông huyện Thiều “.

Theo cuốn ” Quốc triều hương khoa lục” của tác giả là sử quan Cao Xuân Dục – giữ chức Tổng tài sử quán triều Nguyễn – có chép:” Nguyễn Trí Hoán người xã Cương Gián, huyện Minh Chánh, tỉnh Quảng Bình (nay là xã Tiến Hoá, huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình) đậu cử nhân năm 1867 tại trường thi Thừa Thiên. ông được bổ làm tri huyện ở Bình Định một thời gian rồi được thăng làm tới chức Thộng Phán ở triều đình (Huế).
Gia phả của họ Nguyễn ở Đức Hoá, Tuyên Hoá ghi rõ: ông Nguyễn Trí Hoán vốn là chắt nội của cụ Nguyễn Trí Thiết . Tổ tiên ba đời về trước của ông Nguyễn Trí Thiết ở Tổng Cổ Đạm, Nghi Xuân, Hà Tĩnh .Ông Thiết do có công lao to lớn với triều đình Lê Trịnh, nên được vua Lê ban tặng danh hiệu ” Anh hùng tài trí Danh đằng Bố chính châu ” .

Thân sinh ông Nguyễn Trí Hoán là cụ Nguyễn Trí Quần , vốn sinh sống bằng nghề làm ruộng. Cảnh nhà thanh bần, trọng chữ nghĩa và từ đời ông trở đi đã đến định cư tại xã Đức Hoá huyện Tuyên Hoá .
Từ nhỏ, ông Hoán đã được cha mẹ cho theo học ”cửa Khổng sân Trình”. Ông có một tư chất thông minh, lanh lợi, học một biết mười. Vì vậy chỉ đi thi một lần ,ông đã đậu ngay Cử nhân.

Ông ra làm quan trong cảnh đất nước ngày càng mất dần vào tay quân xâm lược Pháp. Quan lại đầu triều phân hoá thành hai phái: chủ chiến và chủ hoà . Ông Hoán ý thức được tình cảnh làm quan lúc này chẳng khác gì kẻ nô lệ trong đám người nô lệ, nên càng nô lệ hơn. (Cụ Nguyễn Sinh Sắc thân sinh Chủ tỉnh Hồ Chí Minh vẵn thường nói: ”Quan trường thị nô lệ chi trung nô lệ. Hựu nô lệ”). Hơn ai hết, ở chốn triều trung, Ông Hoán thấy rõ nhất sự tham lam, đục khoét của bọn quan lớn, quan bé cũng như sự hống hách ngạo mạn của bọn thực dân Pháp. Cụ hết sức căm giận quân cướp nước và bọn bán nước, nhưng không làm gì được chúng ! Tiếng là quan triều đình nhưng cụ sống hết mực thanh liêm, mực thước. Đối với quan trên, cụ thường có đôi câu châm biếm, khích bác thói ức hiếp, nhũng nhiễu của chúng. Vì thế mà hoan lộ của cụ không phải là con đường suôn sẻ, thẳng tắp. Với người dân thấp cổ , bé miệng thì cụ tìm mọi cách dùng cái uy danh của chức vị quan “Thông Phán” mà bênh vực quyền lợi hoặc giải toả nỗi oan trái cho họ.Vì thế mà dân rất mến mộ, kính nể cụ. Còn bọn quan trên thì xem cụ như một cái gai trong mắt chúng , một vật cản trở sự đục khoét của họ. Và chúng đã tìm được cách ”nhổ cái gai trong mắt ”khó chịu đó đi.

Một hôm, cụ Nguyễn Trí Hoán đang sửa soạn áo mão để đi thiết triều, thì có người ăn vận ra dáng ngư dân, xách tay nải, đến trước cổng nhà cụ, khẩn khoản với người nhà cụ , xin vào gặp quan Thông Phán – Cụ đồng ý cho vào . Người này vái lạy rồi kể lể vòng vo…đại ý là trước đấy, nhờ có quan Thông Phán xét xử công minh trong một vụ kiện, anh ta mới thoát khỏi lao lí. Bây giờ có chút lễ mọn là một con cá khá to vừa đánh được, xin biếu cụ, tỏ chút lòng tri ân cứu nạn…

Nghe đến đó , cụ Hoán nghiêm nét mặt :”Ta với nhà anh có quen biết chi mô – Xử kiện, ta xử đã nhiều, ta không nhớ anh là ai nữa. Vả lại, trong xét xử ta lấy đạo chí công làm trọng – Thấy dân oan phải bênh. Ta đâu phải làm việc để đến lúc này nhận quà biếu xén của các anh- Thôi anh mang lấy cá mà về”.
Người khách giãy nảy, nài nỉ xin quan nhận cho món quà mọn, rằng cụ bắt con mang về thì bố con đánh chết.v.v…Thật khó xử quá. Suy nghĩ một lát, quan quay lại bảo quan bà, từ nãy tới giờ đang theo dõi câu chuyện: “Nể lòng chân thật của anh ấy, bà lấy dao thớt cắt lấy một phần con cá, còn lại anh ta mang về – xem như mình đã nhận tấm lòng tốt của họ”.

Bà quan vâng lời chồng. Khi con dao bầu đưa ngang bụng con cá, bà cảm thấy lưỡi dao đụng vào một vật gì rất cứng. Nó phát ra tiếng rin rit như gặp phải đá hay kim khí. Bà thò ngón tay vào bụng cá và móc ra một dây chuyền bằng vàng chừng 5 đồng cân! Cũng vừa lúc đó có mấy tên lính lệ cùng quan thanh tra ập vào và tri hô lên rằng: quan Thông phán nhận hối lộ của dân, bị bắt quả tang!

Phải nói, màn kịch ”gắp lửa bỏ tay người” của chúng đóng rất đạt! Tình ngay, lí gian, ông Hoán như chết đứng giữa thanh thiên bạch nhật. Cộng với nỗi bực dọc, chán ngán bấy lâu nay, đã thúc giục cụ đi đến một quyết định hết sức đúng đắn: làm đơn xin trả áo mũ từ quan, sau hơn 10 năm tại vị.
Nghe tin cụ thông phán Nguyễn Trí Hoán bị oan và đã cáo quan, trong triều, ngoài Kinh ai ai cũng thấu hiểu và sẻ chia cùng cụ.

Ba năm sau, tra xét lại vụ việc trên, vua Tự Đức thấy ông Hoán bị hàm oan, Tự Đức cho triệu ông vào Kinh đô, minh oan cho ông và thăng cho ông làm tuần phủ Nghệ An. Ông Nguyễn Trí Hoán kiên quyết từ chối, lấy cớ già cả lại bị đau mắt!

Ông trở về quê nhà ,vui thú điền viên ở thôn Phú Sơn xã Đức Hoá bên dòng sông Gianh uốn lượn ôm lấy lèn Tiên Giới thần tiên.

Điều đáng kể ở sự nghiệp của cụ Nguyễn Trí Hoán là cụ sáng tác rất nhiều thơ văn cả Hán lẫn Nôm. Có nhiều tác phẩm đạt đến mức tuyệt tác như bài văn tế “Thầy bói tế vợ” Văn chương vẫn một phong cách như người cụ: điềm đạm, trào phúng thâm thuý, tao nhã và trang trọng.

Cụ thường răn dạy con cháu sống theo đạo “Trung Dung” (không thiên lệch, đừng bất cập, không thái quá) , cụ luôn nhắc nhở con cháu rằng làm người phải lấy chữ hiếu, chữ tâm làm đầu ( Nhân sinh bách hạnh hiếu vi tiên) v.v..

Hiện nay ở Đức Phú, Đức Hoá có trên nửa số dân là cháu, chắt chút của cụ Hoán – Noi gương tiên tổ, có nhiều người thành đạt, đã và đang công tác, giữ nhiều cương vị khác nhau trên mọi miền đất nước. Họ đang từng ngày làm vẻ vang cho quê hương, đất nước, vẻ vang dòng họ Nguyễn Trí – một dòng họ đã đóng góp cho đất nước thời phong kiến một ông quan thanh liêm và khảng khái./.

Nguyễn Văn Huyên

Leave a Reply

Your email address will not be published.

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.